Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Trang vàng liệt sĩ

Câu chuyện về một Anh hùng

Cập nhật lúc 08:13 14/10/2019

Năm 1972, trận tập kích phá huỷ Tổng kho xăng Nhà Bè của liệt sĩ Nguyễn Công Bao và đồng đội có thể nói là đã làm chấn động cả thế giới. Tên tuổi của anh không chỉ một thời nổi danh, mà sau đó 30 năm, năm 2002, tượng đài Nguyễn Công Bao được dựng lên tại tỉnh Đồng Nai; còn ở thành phố Hồ Chí Minh, một con đường được đặt theo tên anh...

Nhưng vinh quang chỉ thực sự trọn vẹn khi sau 41 năm, năm 2013, anh đã được Nhà nước chính thức truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân!

Anh hùng Nguyễn Công Bao.

Huyền thoại một chiến công...

Được tin chị Vũ Thị Hiệp, vợ liệt sĩ Nguyễn Công Bao, mới vào TP Hồ Chí Minh trở về, tôi liền đến hỏi thăm. Trong căn nhà ấm áp, chị và anh Vũ Văn Cường, người chồng sau này, hồ hởi đón khách. Chị Hiệp xúc động kể với tôi về chuyến đi vào thăm chiến trường xưa, nơi liệt sĩ Nguyễn Công Bao đã hy sinh:

- Em lại được sống những ngày thật thân thiết trong tình thương của các cán bộ và chiến sĩ Đoàn 10 Rừng Sác, như thể “anh lính” nhà em vẫn còn ở trên đời! Khi trân trọng đón tấm bằng “Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân” do Chủ tịch nước ký truy tặng, em không ngăn nổi dòng nước mắt. Em thấy như “anh lính” nhà em đang cười...

“Anh lính” mà chị Hiệp nói đây là người chồng trước của chị, liệt sĩ Nguyễn Công Bao. Chị thường vẫn gọi anh với tình cảm thân yêu, kính trọng và thiêng liêng như thế. Tôi run run cầm bản quyết định của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký tại Quyết định số 803/QĐ CTN ngày 25-4-2013 và bản Thông báo do Tổng cục Chính trị - Cục Tuyên huấn (Bộ Quốc phòng) lên đọc.
Bản Thông báo viết: “Đồng chí Nguyễn Công Bao đã cùng đơn vị tập kích phá huỷ Tổng kho xăng Nhà Bè. Trận đánh đạt hiệu quả rất lớn: Kho nhiên liệu Shell của địch hoàn toàn bị thiêu huỷ, cháy 35 triệu galon xăng dầu (tương đương 250 triệu lít), phá huỷ 12 bồn butaga, một tàu dầu Hà Lan 12 nghìn tấn, một cơ sở lọc dầu, một cơ sở trộn nhớt, một khu chứa lương thực, một khu nhà lính... tổng thiệt hại lên tới 20 triệu đôla Mỹ...”.

Chị Vũ Thị Hiệp bên bàn thờ chồng mình, Anh hùng - Liệt sĩ Nguyễn Công Bao.

Vốn là người đã hơn một lần viết về liệt sĩ Nguyễn Công Bao, tôi bồi hồi nhớ lại câu chuyện về anh và nỗi niềm mong mỏi của chị Hiệp từ những năm cuối thế kỷ trước. Nguyễn Công Bao sinh năm 1947, quê xã Cẩm La - huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên). Anh là một trong 8 chiến sĩ lừng danh của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, đơn vị 2 lần Anh hùng. Trong trận đánh mưu trí, quyết liệt đêm mồng 2 rạng ngày 3-12-1973, các anh đã thiêu huỷ toàn bộ căn cứ Tổng kho xăng dầu Nhà Bè của Mỹ - Ngụy bên sông Lòng Tàu, Sài Gòn.

Anh có biệt tài bơi lặn giỏi từ những ngày mò cua bắt ốc, chăn trâu, cắt cỏ bên sông, cùng bạn bè trang lứa học tiểu học trường làng với tôi. Những trang sử của ông cha đánh giặc giữ nước trên dòng sông quê hương đã nung nấu trái tim chàng trai vùng sông biển Hà Nam. Năm 1968 anh tình nguyện nhập ngũ, được sung vào một đơn vị đặc công thuỷ. Dịp nghỉ phép thăm nhà, anh xây dựng gia đình với cô giáo Vũ Thị Hiệp, người làng Phong Hải. Những ngày hạnh phúc của anh chị quá ngắn ngủi. Rồi anh vội vã về đơn vị huấn luyện các chiến sĩ mới. Tới đơn vị, anh viết thư về cho Hiệp: “Gà gáy hôm đó nhỡ đò, anh đã cởi trần bơi từ bến đò Chanh, dọc sông Chanh qua sông Rừng rộng mênh mông sang bờ Thuỷ Nguyên, rồi chạy bộ về đơn vị kịp giờ điểm danh...”. Đọc thư, mà lòng Hiệp tê tái thương anh.

Năm 1972, khi Hiệp sinh con trai được 2 tháng rưỡi thì Bao được lệnh lên đường vào chiến trường B làm nhiệm vụ đặc biệt thuộc đơn vị C5, E10, đặc công Rừng Sác. Lúc đó anh đã là một đảng viên với cấp bậc thượng sĩ, chức vụ Trung đội trưởng. Đơn vị chọn thành lập Đội cảm tử gồm 8 người do Hà Quang Vóc làm tổ trưởng, anh làm tổ phó, cùng các anh Trần Ngọc Sĩ, Nguyễn Hồng Thế, Phạm Văn Tiềm, Đỗ Hải Quân, Nguyễn Văn Dực, Hoàng Hữu Hinh. Các anh đã làm lễ tuyên thệ, truy điệu sống dưới cờ trong căn cứ Rạch Lá - Ông Kèo, trước khi vào trận đánh Kho xăng Nhà Bè. Vóc và Bao đã chỉ huy đồng đội bơi ngầm vượt qua 14 lần hàng rào kẽm gai, chướng ngại vật nguy hiểm, chó bécgiê, ngỗng báo động v.v.. của địch để bố trí trận đánh. Cùng lúc trên đường rút về, những quả mìn đặc biệt do các anh mưu mẹo ém vào các bồn xăng, các điểm hiểm yếu đồng loạt nổ tung, thì anh và Tiềm bị địch phát hiện.
Trận đánh diễn ra vô cùng căng thẳng, ác liệt giữa 8 chiến sĩ cảm tử với bọn địch, lực lượng rất lớn gồm bộ binh, nhiều tàu chiến, máy bay trực thăng quần đảo trên sông Lòng Tàu. 6 chiến sĩ ta lọt được ra ngoài. Bao và Tiềm đã bị lọt vào vòng vây của 7 chiếc tàu tuần tiễu của địch. Địch bủa vây, bắn xối xả, ném cơ man lựu đạn xuống sông. Bị sức ép kinh khủng dưới nước, hai anh trồi lên, đã bị chúng chao lưới kéo lên tàu. Hai anh còn tiếp tục chiến đấu, tiêu diệt thêm nhiều tên nữa. Biết không thể thoát được, nhưng kiên quyết không để địch bắt sống, Bao và Tiềm đã dùng vũ khí đặc biệt còn lại trong người hy sinh thân mình và huỷ luôn tàu giặc. Những chiến sĩ rút ra ngoài đã trực tiếp quan sát được bối cảnh hy sinh anh dũng của hai anh trên sông…

Sau trận đánh, đơn vị đã nhiều lần bí mật tìm kiếm nhưng vẫn không thể tìm được thi hài của Bao và Tiềm. Hai liệt sĩ được tuyên dương “Hành động Anh hùng” và được tặng thưởng Huân chương Chiến Công hạng Nhất. Thời điểm đó, hãng thông tấn Roi tơ đã phải thốt lên: “Những chiến sĩ Việt cộng này tinh khôn đến lạ lùng. Họ đã đánh vỡ dạ dày của quân đội Sài Gòn... Họ đã đốt sạch 200 triệu lít xăng trong 12 bồn chứa lớn bằng ngọn lửa rừng rực cháy suốt 12 ngày đêm...”.

Chiến công đánh Kho xăng Nhà Bè vang dội cả nước. Dư luận thế giới hết lời ngợi ca. Hiện những bức ảnh chụp riêng hai anh và đội cảm tử tuyên thệ trong Rừng Sác hồi đó được báo chí các hãng thông tấn đăng tải một thời còn được lưu giữ tại Phòng Truyền thống Đoàn 10 Rừng Sác…

Và những chuyến thăm lại chiến trường xưa của chồng...

Chiến công và dư âm của người Anh hùng còn đó. Nhưng với chị Hiệp, việc không tìm thấy hài cốt của chồng là nỗi niềm day dứt bấy lâu. Hơn 25 năm kể từ ngày được tin anh hy sinh, chị vẫn thờ chồng, chờ đợi và hy vọng. Đồng đội anh cũng đã đi tìm xem thấy chút gì trong mảnh đất Nhà Bè và quanh vùng sông Lòng Tàu. Nhưng vô vọng, vì cùng với chiến công, có thể thân xác anh đã hoá thân vào sông nước! Dẫu vậy, trong lòng chị Hiệp vẫn mang một mong mỏi muốn có một ngôi mộ tưởng niệm anh tại Nghĩa trang quê nhà, để chị được cùng những người mẹ, người vợ liệt sĩ khác trong làng tới nghĩa trang thăm viếng vào những ngày lễ, tết. Trong nhiều lá đơn gửi lên các cơ quan hữu trách, chị tha thiết đề nghị: “xây cho anh một ngôi mộ tưởng niệm tại Nghĩa trang liệt sĩ quê nhà. Làm như vậy là an ủi được vong linh anh và động viên người còn sống chúng tôi...”.

Công văn của thủ trưởng Đoàn 10 Rừng Sác cũng gửi các cơ quan của tỉnh Quảng Ninh đề nghị xây mộ tưởng niệm cho anh... Nhưng tiếc thay, nguyện vọng cháy bỏng của chị, của đồng đội anh không thực hiện được vì nhiều căn nguyên, trong đó có lý do: “…đây là trường hợp chưa làm bao giờ!...”. Ruột gan chị Hiệp càng như lửa đốt.

Cùng với đó, chị Hiệp còn một day dứt nữa là chồng chị, anh Nguyễn Công Bao, tuy được tuyên dương “Hành động anh hùng”, nhưng trên thực tế vẫn coi như là người mất tích. Đến tháng 7-1997, khi nhận được thông tin, nguyện vọng, địa chỉ chính thức của chị, Đại tá Lê Bá Ước (mọi người vẫn gọi là Bảy Ước), nguyên Trung đoàn trưởng, người trực tiếp tổ chức lễ truy điệu sống cho 8 cảm tử quân trong trận đánh năm ấy, rất xúc động. Ông lập tức gửi cho chị những tư liệu, những bức ảnh về Nguyễn Công Bao một thời Rừng Sác, kèm theo một… gói đất do Trung đoàn 10 Rừng Sác lấy từ Nhà Bè, sông Lòng Tàu, nơi các anh đã hy sinh, với lời dặn dò trong thư: “Nếu xây mộ tưởng niệm thì chị hãy đặt gói đất này xuống mộ coi như có phần xương cốt của anh trong đó...”.

Cầm gói đất trên tay, chị Hiệp nghẹn ngào không nói nên lời. Nhưng chị đã không thể tự mình thực hiện được “Ngôi mộ tượng trưng” cho chồng khi chưa được các cấp, các ngành hữu quan vào cuộc… Chị đành thầm lặng để nắm đất lên bàn thờ anh, một mình tưởng niệm…

Những tưởng vô vọng, nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra. Vào một ngày tháng 7-1999, dân ở khu vực hàng rào Kho xăng Nhà Bè báo tin tìm thấy hai bộ hài cốt. Vợ chồng Đại tá Lê Bá Ước cùng một số cán bộ, chiến sĩ Đoàn 10 Rừng Sác đã tức tốc đến tận nơi xác định. Bà Bảy Ước đã rưng rưng khóc trước từng chiếc mũ vải dù hoa, chiếc ống thở, chiếc dây thắt lưng do chính tay bà khâu hồi đó cho các anh mang theo trước khi vào trận đánh. Rồi căn cứ vào xương quai hàm, xương ống chân, hàm răng... mọi người khẳng định: Đây là hài cốt của hai chiến sĩ đặc công Nguyễn Công Bao và Phạm Văn Tiềm! Mộ của hai anh đã được quy tập tại nghĩa trang Liệt sĩ huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh theo đúng nghi thức Quân đội.

Tháng 11-1999 nhận được điện khẩn của Đại tá Lê Bá Ước, chị Hiệp bay vào Nam để nhận phần mộ của anh. Đây là chuyến đi thứ nhất. Các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 10 đón tiếp chị rất thân tình và họ thuật lại toàn bộ sự kiện phát hiện hài cốt liệt sĩ sau khi có kết luận cơ sở khoa học một cách chính xác. Thắp hương trước mộ anh, chị Hiệp đã khóc rất nhiều trong nỗi niềm mừng mừng, tủi tủi...

Lần thứ hai, tháng 4-2000, chị Hiệp đưa con trai Nguyễn Công Chiến và con dâu mới cưới vào viếng mộ bố và dự Lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Đoàn 10 Rừng Sác. Ba mẹ con đã cùng các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 10 đến dâng hương tại Đền thờ liệt sĩ huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, trên tấm bia tưởng niệm các liệt sĩ Rừng Sác, riêng Quảng Ninh đã có 9 liệt sĩ, trong đó huyện Yên Hưng góp 5 liệt sĩ. Ba mẹ con cùng bái lễ và chụp ảnh dưới chân tượng đài mang tên “Đặc công Rừng Sác” trong nghĩa trang liệt sĩ Nhơn Trạch. Đây là tượng đài cao 9 mét, tạc dựng đúng nguyên mẫu chân dung Nguyễn Công Bao và Phạm Văn Tiềm, rất uy nghi trong tư thế xốc tới, đúng như bức ảnh đen trắng do nhà nhiếp ảnh Văn Sáu, phóng viên mặt trận chụp trước giờ các anh xuất kích, mà ông Bảy Ước cất giữ cẩn thận bấy lâu. Ông Bảy Ước đã kể với chị về quá trình làm tượng đài:

- Hoạ sĩ Sĩ Nguyên khi cầm bức ảnh tôi đưa cho, không hề hỏi tên hai liệt sĩ, bảo: “Có một đêm tôi nằm mơ thấy hai ông đặc công bơi từ ngoài sông Đồng Nai vào. Hai ông ở trần, ngực nở múi, bơi dưới nước mà như người đi trên cạn. Ông cằm bạnh xưng là Bao, ông mũi cao và thẳng xưng là Tiềm...”. Nghe xong, tôi (Lê Bá Ước) giật mình chỉ bức ảnh: “Thì đúng tên hai thằng này là Bao, là Tiềm đó. Tụi nó có nói gì không?”. Hoạ sĩ bần thần: “Tôi thấy hai ông bảo ghé chơi đôi chút rồi còn phải đi. Ngoài sông anh em đang đợi đông lắm, đi bằng xuồng bo bo... tôi (Sĩ Nguyên) giật mình tỉnh dậy, chẳng biết là hư hay thực?”.

Đó là thời gian tỉnh Đồng Nai đồng ý với kiến nghị của Đại tá Lê Bá Ước xin chủ trương xây dựng tượng đài Liệt sĩ Đặc công Rừng Sác. Bản phác thảo được Hội đồng thẩm định thông qua, giao cho nhóm tác giả, gồm Đại tá Lê Bá Ước, hoạ sĩ Sĩ Nguyên và nhà điêu khắc Trần Thanh Thanh trực tiếp thi công. Không thể phủ nhận những yếu tố tâm linh. Chỉ trong vòng 3 tháng, thay mặt Ban quản lý dự án, ông Bảy Ước đi vận động các tỉnh giáp giới với Rừng Sác, đến đâu cũng được ủng hộ. Ngày khởi công khu đền thờ, tự dưng trên bầu trời có hàng nghìn con chim bồ chao từ đâu bay về hót rộn rực. Dân địa phương xã Phước An bảo chưa bao giờ lại thấy một đàn chim bồ chao về đông đến thế! Chắc chắn là hương linh các chiến sĩ Đoàn 10 đã phù hộ! Tượng đài này một năm sau còn được dựng một khối nữa trong khuôn viên khu Di tích căn cứ Rừng Sác.

 Bà Hiệp chụp ảnh lưu niệm tại con đường mang tên Anh hùng - Liệt sĩ Nguyễn Công Bao ở huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh năm 2004.

Một niềm vui nữa lại đến với mẹ con chị Hiệp khi lần thứ ba vào chiến trường xưa. Đầu tháng 9-2004, chị được mời dự ngày giỗ chung các liệt sĩ Đoàn 10 Rừng Sác tổ chức truyền thống vào ngày 1-9 hằng năm và thăm con đường mang tên “Đường Nguyễn Công Bao” ở huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là con đường thứ 367, cùng với con đường số 361 mang tên Hà Quang Vóc, trong số 376 con đường mới của thành phố Hồ Chí Minh được đổi và đặt tên vào năm 2002. Vô cùng xúc động, chị đã chụp ảnh trên con đường còn thắm màu đất đỏ trong cảm giác như đứng trên con đường của quê hương... Cũng hôm 1-9-2004 xuống Cần Giờ thăm khu Di tích căn cứ Rừng Sác, đi cùng xe với chị Hiệp có ông Sáu Lập (tức thiếu tướng Trần Thành Lập). Ông nói: “Mấy năm qua chúng tôi không ngừng tác động việc đề nghị cấp trên truy tặng Anh hùng cho chú Bao... Chưa có hồi âm, chúng tôi còn đề nghị...”.

Lần thứ tư, năm 2011, chị Hiệp lại cùng con và gia đình vào Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Nhà Bè xin phép được chuyển hài cốt “anh lính” về mảnh đất quê hương. Khát vọng của chị đã được thoả nguyện. Hài cốt của anh đã được đón rước, an táng trọng thể tại Nghĩa trang Thị xã Quảng Yên bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử...

Thay lời kết

Nắng chiều đổ dài bóng cây ngoài sân. Khoé mắt chị Hiệp vẫn còn rơm rớm ướt. Những giọt nước mắt của đau thương và vinh quang, của mất mát và hạnh phúc... “-Vậy là nay “anh lính” nhà em đã được vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng! Và đây cũng là lần thứ 5 em vào lại chiến trường xưa để thay mặt “anh lính” đón nhận Danh hiệu Anh hùng cho anh!

Chia sẻ cùng chị, tôi thắp nén nhang tưởng nhớ anh, người bạn học lứa học trò trường Đình La làng Cẩm La thuở ấy. Chúng tôi lặng đi hồi lâu trước bàn thờ vong linh anh. Đây là bàn thờ do anh Vũ Trọng Cường, người chồng sau của chị Hiệp, trực tiếp đóng và dành một gian trang trọng trong ngôi nhà để thờ người Liệt sĩ. Bao đứng đó, đôi vai trần rắn chắc, vầng ngực nở múi với gương mặt kiên nghị sáng ngời phảng nét cười xa thẳm. Anh Cường còn để riêng hai khung kính lớn trưng bày thành một nơi lưu giữ những tài liệu, những bức ảnh đầy ý nghĩa về Bao và những chuyến vào chiến trường xưa của mẹ con chị Hiệp. Anh tâm sự: “Nhờ “anh lính” mà tôi và gia đình có được những hạnh phúc hôm nay! Tuần rằm nào chúng tôi cũng không quên thắp hương tưởng nhớ anh!”…

Dương Phượng Toại

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác