Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Kỉ niệm đồng đội

Huyền thoại về người anh hùng “đất nhãn”

Cập nhật lúc 09:09 12/05/2020

Về với xứ sở “nhãn lồng” vào đúng dịp cả nước hân hoan hướng về kỷ niệm 45 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Hoa nhãn bung nở ngát hương, chúng tôi ghé thôn Nghĩa Giang, xã Toàn Thắng, huyện Kim Động (Hưng Yên) để thăm ông Nguyễn Đức Thụy – người hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Biệt danh “Rái cá” và trận đánh đêm giao thừa

 

Nguyễn Đức Thụy, sinh tháng 6/1944 trong gia đình địa chủ (bị quy trong cải cách ruộng đất). Thích bơi lội và được người thân truyền dạy võ từ lúc 12 tuổi nên Nguyễn Đức Thụy là đứa trẻ vừa tinh thông võ nghệ, vừa giỏi bơi lội. Lớn lên, bị ám ảnh bởi thành phần xuất thân nên ông nghĩ cách phải thoát ly khỏi quê hương và xin vào Xí nghiệp gạch ngói Vân Trì (huyện Khoái Châu). Từ đây, tháng 3/1967, Nguyễn Đức Thụy lên đường nhập ngũ. Thấy được biệt tài của chàng trai này, cấp trên đã tuyển chọn anh vào đơn vị đặc công, thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công. Sau Mậu Thân 1968, do Đoàn tàu không số gặp sự cố, Nguyễn Đức Thụy cùng đơn vị hành quân bộ từ Hải Phòng vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam và được biên chế vào Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác – một đơn vị đặc công nước đặc biệt tinh nhuệ.

A

Anh hùng Nguyễn Đức Thụy (người đeo kính) ôn lại kỷ niệm chiến trường cùng các đồng đội

Không chỉ có biệt tài bơi lội, ông còn rất giỏi võ, nên đồng đội mến phục tôn với biệt danh Thụy “rái cá”. Sau này, ông được chuyển về đơn vị mang mật danh Z24. thuộc Bộ tham mưu Miền, tác chiến ở vùng cửa biển Vũng Tàu, nơi được xem là yết hầu của Sài Gòn lúc bấy giờ.

           

Ông nhớ lại: Được huấn luyện tại miền sông nước Hải Phòng với phương thức tác chiến độc đáo, lấy ít đánh nhiều, luồn sâu đánh hiểm, bí mật bất ngờ và cả cách ngụy trang khéo léo đã tạo cho tôi bản lĩnh dạn dày, phù hợp với sở trường yêu thích. Với hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, trong đó có trận đánh ngày 19/5/1970, tôi chỉ huy một tổ gồm ba người vận động tập kích diệt gọn Lữ đoàn Mỹ ngụy, giải phóng đảo Long Sơn (Vũng Tàu – Côn Đảo). Sau trận này, ngày 25/5/1970, tôi được kết nạp vào Đảng. Tháng 12 năm đó, tôi chỉ huy tổ đặc công nước đánh chìm 01 chiến hạm với trọng tải 32 vạn tấn và đánh chìm một cụm tàu 4 chiếc chở 20 nghìn tấn bom đạn của địch. Nhưng đáng nhớ nhất là trận đánh diễn ra ngày 20/5/1973, trên cương vị Chính trị viên Đội A32, vào 19 giờ, tôi và Hạ sĩ Nguyễn Văn Cát xuất kích, mang khối thuốc nổ nặng 80kg vượt qua eo biển Vũng Tàu. Đúng 0 giờ vào quân cảng Cát Lở - Rạch Dừa. Chúng tôi bơi được 12km thì phát hiện cụm tàu 4 chiếc đang thả neo. Trên tàu, lính gác đi lại, xung quanh có tàu tuần tiễu. Cân bằng trọng lượng nước, tôi vừa dẫn đường, vừa kéo khối thuốc nổ theo kỹ thuật nghiệp vụ đặc công nước, còn đồng chí Cát điều chỉnh khối thuốc nổ bơi theo. Cách mục tiêu hơn 2km, bất ngờ, đồng chí Cát bị chuột rút, chuẩn bị chìm, nguy cơ kéo khối thuốc nổ xuống. Trước tình thế nguy hiểm, tôi vừa kéo khối thuốc nổ, vừa đẩy đồng chí Cát và ra lệnh cho đồng đội rời đội hình, vào chờ ở cồn cát gần đó. Một mình tôi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Gài khối thuốc nổ và hẹn giờ xong lúc hơn 2 giờ, tôi bơi trở về cồn cát đã giao ước với Cát. Cách chừng 200m, tôi nghe tiếng nổ lớn, sức ép từ vụ nổ đẩy vọt tôi lên mặt nước và bất tỉnh. Do bị thương quá nặng, hơn một tháng sau tỉnh lại tôi mới nghe Cát kể: Sau vụ nổ, đèn pha địch sáng rực cả khu vực. Máy bay địch điên cuồng quần thảo, đạn vãi như mưa, tàu tuần tiễu cùng các công cụ xỉa, chọc, hòng tìm đặc công ta. Chính lúc bị đẩy trồi lên mặt nước, Cát phát hiện ra tôi, rồi lợi dụng những mảnh gỗ của kiện hàng vỡ hóa trang để vượt qua tàu tuần tiễu và các chốt của địch. Hai ngày sau, Cát mới đưa được tôi về cứ. Kết quả trận đánh là 4 chiếc tàu cùng 20 nghìn tấn bom đạn địch bị nhấn chìm xuống biển.

           

Ông bảo, trước mỗi trận chiến sinh tử, đơn vị đều làm lễ truy điệu sống và ông đã 3 lần được truy điệu sống như vậy. Có trận, bom nổ đã quăng ông văng xa tới 25m. Có trận đánh, ông bị thương phải cắt bỏ 1 mét ruột và có lần bị trúng đạn, tim ngừng đập, đơn vị chuẩn bị truy điệu, nhưng rồi tim ông đập trở lại… Có hàng chục lầ ngụp lặn dưới nước, trên đầu máy bay hạ thấp độ cao để hòng bắt sống, nhưng ông đều thoát ngoạn mục…

 

Khi được hỏi lúc làm lễ truy điệu sống, ông thấy thế nào? Ông cười: Sợ chết thì đã chẳng dám đi. Lúc bấy giờ có nghĩ gì đâu, chỉ nghĩ cách làm thế nào để chiến thắng, không chỉ riêng tôi, những chiến sỹ đặc công nước ai cũng được tôi luyện, tóc thì đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, khí phách, quả cảm, người nào cũng chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa. Chúng tôi sống cùng sống, chết cùng chết, cùng chung nhau điếu thuốc, phong lương khô, sát cánh cùng nhau trong mỗi trận chiến, cùng cảm nhận đến tận cùng mọi vui, buồn, hiểm nguy, bệnh tật và hy vọng…

 

Trải qua vô vàn hiểm nguy rình rập, nhiều lần cận kề cái chết, người chiến sĩ đặc công mưu trí, dũng cảm ấy đã chỉ huy và trực tiếp tham gia trên 100 trận đánh lớn nhỏ, có nhiều trận gây tiếng vang lớn làm cho giặc nao núng, khiếp đảm.

           

Ngừng một lát, ông kể tiếp: Trận đánh trên cạn mà tôi nhớ nhất là giao thừa Tết Nguyên đán Tân Hợi năm 1971, khi bí mật thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt trong lòng địch. Đêm 29 Tết, tôi nhận lệnh đến gặp Thành đội trưởng Hồ Thanh Xuân và được đồng chí cho biết: Địch sẽ dùng lực lượng lớn đi càn để bao vây, tiêu diệt Trung đoàn 33 (Quân khu miền Đông Nam Bộ). Tương quan lực lượng rất bất lợi cho Trung đoàn 33, tình huống rất gấp, nếu chậm thì Trung đoàn không thể rút lui được. Làm thế nào để dừng chân chúng lại khoảng 10 tiếng? Tôi xung phong nhận nhiệm vụ với ý tưởng kìm chân địch bằng cách làm hỏng xe tăng của chúng. Đêm 30 Tết, tôi xuất kích bơi qua sông, vượt qua hàng rào 8 lớp dây thép gai, qua các rãnh, hào nước và cả đàn ngỗng… Đến 22 giờ đêm, tôi vào đến bãi xe tăng địch. Lợi dụng lúc địch say sưa chúc tụng, tôi lựa chọn 3 trong số 30 xe của chúng, gồm xe đầu tiên, xe ở giữa và cuối đội hình, bí mật mở nắp bình xăng, đổ dầu nhớt, cát và muối vào. Sau nửa giờ xử lý xong 3 xe tăng, tôi rút ra an toàn.

 

Sau giao thừa, quân địch bắt đầu xuất kích. Từ trên bốt quan sát, anh em báo về cho Thành đội trưởng Hồ Thanh Xuân: Chiếc xe tăng đầu tiên đi được gần một cây số thì quay ngang, tiếp đến xe giữa và xe cuối cũng quay ngang. Đội hình địch phải dừng lại. Sau đó, ta nhận được tin báo, kế hoạch của địch bị phá vỡ, 3 xe tăng bị hủy, 3 xe khác được bổ sung để tiếp tục làm nhiệm vụ khác. Khi Đức Thụy thực hiện nhiệm vụ cũng là lúc Trung đoàn 33 nhận lệnh rút về vị trí mới an toàn…

 

Hai lần phong tặng anh hùng

           

Ghi nhận những thành tích, công lao đóng góp, ngày 23/12/1973, Nhà nước đã phong tặng cho ông danh hiệu: Anh hùng LLVT nhân dân giải phóng vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông bảo: Lúc bấy giờ mình còn đang hoạt động bí mật nên có biết được tặng thưởng gì đâu, sau ngày giải phóng mới biết được tặng thưởng danh hiệu anh hùng.

 

Đến ngày 15/01/1976, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tiếp tục phong tặng cho ông danh hiệu: Anh hùng LLVT nhân dân vì đã lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. 

 

Chỉ trong hơn hai năm, hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, nhưng khi gặp ông, nếu không tìm hiểu trước thì sẽ khó mà biết được những chiến công vì ít khi người Anh hùng này nói về mình.

 

Sau 21 năm trong quân ngũ với hàng chục vết thương, vẫn còn hàng chục mảnh đạn trong người, đến năm 1988, Anh hùng Nguyễn Đức Thụy phục viên với quân hàm Đại úy, Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công nước 41, Trung đoàn 779, Đặc khu Quảng Ninh. Trở về địa phương, ông làm bí thư chi bộ thôn, gương mẫu trong mọi phong trào. Giờ đây không còn tham gia công tác, nhưng với vai trò là một cựu chiến binh, ông luôn là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo.

 

Chia tay ông trong rưng rưng xúc động và lòng ngưỡng mộ, tôi vẫn thấy lấp lánh cái chất liệu của một vị anh hùng giữa đời thường, giản dị, trong sáng của quê hương “đất nhãn”.

 

Thái Thụy/ QK3

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác